icon diamond
iSofHcare là ứng dụng đặt khám online hàng đầu, với hệ thống bệnh viện, phòng khám và bác sĩ liên kết là những chuyên gia đầu ngành, cho phép người dùng đặt khám, từ xa và lưu trữ hồ sơ sức khỏe tiện ích và dễ dàng. Quét QR Code để cài app ngay!

Nguy hiểm khôn lường của bệnh lỵ amip, bạn đã biết?

Bệnh lỵ amip: căn bệnh truyền nhiễm qua con đường tiêu hóa. Đặc biệt vì thế mà trực tràng cũng chính là một bộ phận dễ bị nhiễm bệnh. Vậy hãy cùng ISOFHCARE tìm hiểu xem bệnh lỵ amip ở trực tràng là gì? Bệnh lý có nguy hiểm không? Xét nghiệm chẩn đoán bệnh như thế nào? Bài viết dưới đây sẽ giải đáp những câu hỏi mà rất nhiều người quan tâm đến.

1. Bệnh lỵ amip là?

Bệnh lỵ amip là tình trạng bệnh lý tại đại tràng do Entamoeba histolytica gây nên

Bệnh lỵ amip là tình trạng bệnh lý tại đại tràng do Entamoeba histolytica gây nên. Bệnh biểu hiện điển hình là hội chứng lỵ gồm đau quặn mót rặn ỉa phân có máu tươi. Hầu hết các trường hợp không triệu chứng, một số trường hợp có tiêu chảy nhẹ kéo dài, trầm trọng hơn là lỵ tối cấp. Ngoài ra, amip cũng gây một số bệnh lý ngoài ruột như ở gan, màng bụng, màng phổi, màng ngoài tim.

Amip thuộc nhóm động vật đơn bào, di chuyển bằng giả túc và có một nhân. Amip ký sinh trên người gồm có Entamoeba histolytica, E. dispar, E. hartmanni, E. colechi, E.Coli, E, chattoni và E. gingivalis (ký sinh tại miệng). Trong số này chỉ có E. histolytica gây bệnh cho người.

2. Phân bố dịch bệnh của bệnh lỵ amip

a. Phân bố của Entamoeba histolytica

Theo ước tính có khoảng 10% dân số toàn thế giới nhiễm Entamoeba, trong đó hầu hết là E. Dispar. Tuy nhiên, E. histolytica là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ 3 trong các bệnh do ký sinh trùng. Ở các nước nhiệt đới, tỷ lệ mắc bệnh là 25 - 40% có liên quan với điều kiện khí hậu, vệ sinh môi trường và vệ sinh ăn uống. Ở châu Phi và Nam Mỹ tỷ lệ mắc có thể lên đến 60 - 83%. Ở các nước ôn đới tỷ lệ mắc là 1-5%, tuy nhiên tỷ lệ này tăng đến 40 - 50% ở nhóm người đồng tính luyến ái. Ở Việt Nam, tỉ lệ người lành mang mầm bệnh có nơi lên đến 25%, theo thống kê gần đây ở TP. Hồ Chí Minh tỉ lệ này là 8%. Kết quả nghiên cứu của Blanc và Siguier tại Việt Nam cho thấy tỷ lệ biến chứng là 25%. Bệnh phân bố nhiều ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, có liên quan với tập quán sinh hoạt.

b. Nguồn bệnh

Người mang kén Amip là nguồn bệnh duy nhất. Tuy cùng được đào thải ra theo phân, nhưng thể cưỡng bào chỉ tồn tại được 2 giờ ở môi trường ngoài, còn thể kén là tác nhân gây nhiễm trong cộng đồng, đặc biệt khi người mang mầm bệnh làm việc tại các vườn trẻ, nhà ăn tập thể

Người mang kén Amip là nguồn bệnh duy nhất.

c. Phương thức lây bệnh

  • Lây trực tiếp: thường do tay bẩn, bào nang dính dưới móng tay, từ đó được đưa vào miệng qua thức ăn.
  • Lây gián tiếp: qua thức ăn, nước uống, rau quả tươi, hoặc do côn trùng trung gian như ruồi, nhặng, gián mang kén từ phân đến thức ăn. 

Ngoài ra, amip có thể lây qua hoạt động tình dục, và đây là một vấn đề sức khỏe cộng đồng quan trọng ở những quần thể đồng tính luyến ái.

Tải ứng dụng ISOFHCARE để đặt khám trực tuyến với bác sĩ hoặc gọi đến hotline 1900638367 để được hướng dẫn sử dụng ứng dụng!

3. Cơ thể cảm thụ

Liều gây bệnh thông thường < 10^3. Các lứa tuổi đều có nguy cơ, nhưng gặp nhiều nhất ở nhóm 20 - 30 tuổi, trong đó nam chiếm 80%. Trẻ dưới 5 tuổi ít mắc bệnh.

Bệnh thường diễn biến nặng ở trẻ em, phụ nữ có thai và sinh con, cơ địa suy kiệt, có bệnh ác tính hoặc dùng corticosteroids kéo dài. Bệnh cũng hay gặp ở người đồng tính do sinh hoạt tình dục qua đường miệng hậu môn.

4. Các yếu tố thuận lợi

Điều kiện vệ sinh ngoại cảnh kém, rác tập trung gần nhà tạo điều kiện cho ruồi phát triển và ăn uống thiếu vệ sinh (ăn rau sống, uống nước lã tạo điều kiện cho bệnh phát triển.

Người có thể mang mầm bệnh trong nhiều tháng, thậm chí nhiều năm mà không có triệu chứng lâm sàng. Amip sẽ chuyển từ thể không gây bệnh thành thể gây bệnh dưới tác động của những yếu tố chưa được biết rõ. Có 3 yếu tố chắc chắn có ảnh hưởng đến quá trình này:

  • Chủng amip: chủng amip vùng Đông Nam Á được đánh giá có độc tính cao hơn các chủng vùng Bắc Phi và các chủng amip vùng ôn đới thường không có độc lực.
  • Vai trò của các vi khuẩn đường ruột: vai trò kết hợp của vi khuẩn được chứng minh bằng thử nghiệm của Westphal: trong 8 tháng sau khi nuốt nang amip ông không có biểu hiện bệnh, nhưng khi nuốt thêm một số vị trùng thì 20 ngày sau ông bị lỵ amip thực sự.
  • Sức đề kháng của cơ thể: dịch nhầy của niêm mạc đại tràng bình thường chứa glycoprotein, ngăn chặn sự kết dính của amip lên tế bào niêm mạc. Khi có biến đổi ở niêm mạc đại tràng hoặc khi sức đề kháng giảm; amip ăn hồng cầu và gây bệnh.

5. Triệu chứng của bệnh lỵ amip

Bệnh do amip là một bệnh đa dạng, amip có thể gây bệnh tại ruột và ngoài ruột. Trong bệnh cảnh của lỵ amip tại ruột, thời gian ủ bệnh khó xác định và phần lớn người bệnh không có triệu chứng, hoặc triệu chứng rất thô sơ, hoặc cấp tính, hoặc mãn tính.

a. Amip đại tràng cấp tính

  • Triệu chứng thường gặp là hội chứng lỵ: đau bụng, mót rặn, phân nhầy máu và không có biểu hiện sốt.
  • Đau bụng thường ở vùng manh tràng (hố chậu phải, dễ nhầm với viêm ruột thừa), dọc theo khung đại tràng (dễ nhầm với loét dạ dày) và hố chậu trái do tổn thương đại tràng sigma.
  • Mót rặn: gây cảm giác muốn đi đại tiện liên tục.
  • Đi ngoài phân nhầy máu, đôi khi xen kẽ với phân lỏng, số lượng không nhiều, nhưng đi nhiều lần trong ngày.
  • Thể nhẹ: toàn trạng tốt, đi ngoài vài lần trong ngày, phân có nhầy máu
  • Thể trung bình: mệt mỏi, phân có máu, số lần đi 5 - 15 lần/ngày, phân có nhiều dưỡng bào, niêm mạc trực tràng có nhiều vết loét điển hình.
  • Thể nặng: ít gặp, gây tử vong cao, thường xảy ra trên cơ địa suy kiệt, người già, trẻ nhỏ. Toàn trạng suy kiệt, mất nước và điện giải, đau bụng dữ dội, bụng chướng có phản ứng thành bụng, đi ngoài không tự chủ, có thể trụy tim mạch. Niêm mạc trực tràng tổn thương, hoại tử nặng, có nhiều vết loét xuất huyết, có thể có thủng ruột.

b. Amip đại tràng bán cấp

Ít khi mót rặn, đau bụng ít, đi ngoài phân lỏng, ít nhày, đôi khi có táo bón, có thể diễn biến thành cấp tính.

Bệnh lỵ amip- căn bệnh nguy hiểm có nguy cơ gia tăng trở lại!

c. Amip đại tràng mãn tính

Sau một giai đoạn cấp tính hay bán cấp, bệnh trở thành mãn tính với nhiều đợt bệnh cách nhau.

  • Đau bụng liên tục hay từng cơn, có thể không khu trú hay tập trung ở khung đại tràng, manh tràng. 
  • Rối loạn tiêu hóa: thường là tiêu chảy, đầy hơi, ăn không tiêu đối với một số thức ăn (như sữa, chất bột). Bệnh nhân suy nhược, biếng ăn, sụt cân. 

d. Bướu amip

  • Thường thấy ở manh tràng, đại tràng ngang, trực tràng, có thể gây lồng ruột, khó chẩn đoán, dễ nhầm với các khối u đại tràng. Điều trị đặc hiệu chống amip có thể cho kết quả tốt.

Ngoài các biểu hiện tại ruột, amip còn có thể xâm nhập vào gan qua tĩnh mạch cửa gây áp xe gan, thường ở thuỳ phải hơn là thuỳ trái. Ngoài ra, nhiễm khuẩn có thể lan đến phổi, màng ngoài tim hoặc di căn đến các vị trí xa hơn như hệ thần kinh trung ương. 

Cẩm nang ISOFHCARE cung cấp cho bạn các bí quyết khám bệnh tại Hà Nội và Hướng dẫn khám bệnh tuyến trung ương với những thông tin đắt giá và chính xác nhất.

Chúc bạn và gia đình luôn mạnh khỏe!

Chuyên mục:
ISOFHCARE | Ngày đăng 28/12/2021 - Cập nhật 28/12/2021

CHUYÊN MỤC CẨM NANG