icon diamond
iSofHcare là ứng dụng đặt khám online hàng đầu, với hệ thống bệnh viện, phòng khám và bác sĩ liên kết là những chuyên gia đầu ngành, cho phép người dùng đặt khám, từ xa và lưu trữ hồ sơ sức khỏe tiện ích và dễ dàng. Quét QR Code để cài app ngay!

Lao hạch bạch huyết: thể lao ngoài phổi đang có xu hướng mắc bệnh tăng mạnh ở trẻ nhỏ

Khi nhắc đến bệnh lao người ta thường nghĩ đến bệnh hô hấp thường xuyên xuất hiện ở phổi nhưng không chỉ vậy mà lao còn xuất hiện ở nhiều cơ quan, bộ phận khác nữa, điển hình phải nhắc đến thể bệnh lao hạch bạch huyết. Trong những năm gần đây, tỷ lệ mắc bệnh lao hạch đang có xu hướng tăng và đặc biệt là ở trẻ nhỏ.  Vậy bệnh lý lao hạch bạch huyết nguy hiểm như thế nào? Hãy cùng ISOFHCARE tìm hiểu qua bài viết dưới đây nhé!

1. Đặc điểm tổng quát của lao hạch bạch huyết

Lao hạch bạch huyết là một bệnh viêm mạn tính ở hệ thống hạch bạch huyết, có thể gây hoại tử bã đậu, vôi hóa và xơ hóa, nguyên nhân do vi khuẩn lao.

Lao hạch bạch huyết là một bệnh viêm mạn tính ở hệ thống hạch bạch huyết, có thể gây hoại tử bã đậu, vôi hóa và xơ hóa, nguyên nhân do vi khuẩn lao.

Trong các thể lao ngoài phổi, lao hạch bạch huyết là thể lao ngoài phổi thường gặp. Bệnh có thể xuất hiện đơn thuần hoặc phối hợp với các thể lao khác, thường gặp ở cả trẻ em và người lớn, nữ nhiều hơn nam. Tuổi hay gặp của trẻ em từ 5-12 tuổi, người lớn chủ yếu gặp ở tuổi thanh niên, người trên 60 tuổi ít gặp. Các triệu chứng của lao hạch bạch huyết thường không cấp tính, bệnh xuất hiện có tính chất từ từ, với nhiều hạch nhỏ ở vị trí cổ, nách, bẹn, hố thượng đòn...không đau, có thể có sốt nhẹ. Lao hạch bạch huyết nếu được chẩn đoán sớm, điều trị sớm, đúng nguyên tắc bệnh có thể khỏi hoàn toàn, không để lại di chứng.

2. Sinh bệnh học: nguyên nhân, đường gây bệnh, cơ chế, yếu tố thuận lợi

Chủ yếu do vi khuẩn lao người: M.Tuberculosis hominiss

- Nguyên nhân gây bệnh

Chủ yếu do vi khuẩn lao người: M.Tuberculosis hominiss, có thể gặp vi khuẩn lao bò: M.Bovis và vi khuẩn kháng cồn, kháng toan không điển hình: M.Atipiques. Ngày nay cùng sự gia tăng của bệnh HIV/AIDS, vai trò gây bệnh của vi khuẩn kháng cồn, kháng toan không điển hình ngày càng được nói đến. Vi khuẩn lao người gây bệnh lao hạch bạch huyết ngoại vi có thể gặp chủng kháng thuốc từ nguồn lây bệnh đã kháng thuốc trước đó.

- Đường gây bệnh

Chủ yếu là đường máu, đường bạch huyết, ít khi gặp đường kế cận.

- Cơ chế bệnh sinh

Theo chu kỳ gây bệnh lao của Ranke, chia làm ba giai đoạn thì lao hạch tái phát ở chu kỳ 2, gây bệnh theo đường máu. Ngày nay theo chu kỳ gây bệnh hai giai đoạn, lao hạch ở giai đoạn 2- giai đoạn sau lao sơ nhiễm. Vi khuẩn lao từ tổn thương tiên phát, theo đường máu, đường bạch huyết đến gây bệnh ở hệ thống bạch huyết.

- Yếu tố thuận lợi

Trẻ em chưa được tiêm phòng lao bằng vaccin BCG. Tiếp xúc trực tiếp, thường xuyên với nguồn lây là những bệnh nhân lao phổi có ho khạc ra vi khuẩn lao trong đờm tìm được bằng phương pháp nhuộm soi trực tiếp, đó là nguồn lây chính, nguồn lây nguy hiểm. Cơ thể suy giảm sức đề kháng do dùng corticoid liều cao, kéo dài, mắc các bệnh toàn thân như: HIV/AIDS. Trẻ đẻ non, thiếu tháng, còi xương, suy dinh dưỡng. Người già yếu, suy kiệt, mắc bệnh mạn tính. Phụ nữ liên quan đến thai nghén, chửa đẻ…

3. Triệu chứng lâm sàng

Triệu chứng lâm sàng

- Triệu chứng toàn thân

·         Hội chứng nhiễm trùng không rầm rộ. Triệu chứng sốt khoảng 20-30%, thường sốt nhẹ, sốt về chiều và tối, sốt kéo dài, điều trị bằng kháng sinh thông thường không hết sốt.

·         Hội chứng nhiễm độc không rõ, có thể mệt mỏi, ăn ngủ kém, trẻ nhỏ có thể ra mồ hôi trộm. Khi phối hợp với lao bộ phận khác thì tình trạng nhiễm độc rõ hơn.

- Triệu chứng cơ năng

Hạch xuất hiện tự nhiên, người bệnh nhiều khi không để ý nên không biết có hạch to từ lúc nào. Hạch to dần, không đau, không đỏ. Nếu bệnh nhân có kèm theo bị lao cơ quan khác thì thường có các triệu chứng của cơ quan đó đi kèm.

- Triệu chứng thực thể

  • ·         Vị trí hạch bị lao: Trong lao hạch bạch huyết, nhóm hạch ở cổ hay gặp nhất 80% và hay gặp là nhóm hạch dọc theo cơ ức đòn chũm. Hạch thường chỉ gặp một bên 77%, bên phải gấp hai lần bên trái. Ngoài ra có thể gặp hạch ở các vị trí khác nhau như nách, bẹn, dưới hàm…
  • ·         Đặc điểm, tính chất của hạch bị lao

Hạch to dần, có thể có một hoặc nhiều hạch, thường là một nhóm hạch bị sưng to, các hạch kích thước to nhỏ không đều nhau, tập hợp thành một chuỗi, cũng có khi chỉ gặp một hạch bị viêm đơn độc.

Mật độ hơi chắc, mặt nhẵn, không nóng, không đau, không tấy đỏ. Lúc đầu các hạch chưa dính vào nhau, chưa dính vào da nên dễ di động. Khi hạch nhuyễn hóa, trở nên mềm, có thể dính với nhau từng đám và dính vào da và các tổ chức xung quanh làm hạn chế di động.

Hạch sưng to, mềm dần, chất hoại tử bã đậu có thể bị rò rỉ ra ngoài, khi đó để lại lỗ rò lâu liền, bờ nham nhờ, khi liền để lại sẹo nhăn nhúm.

4. Phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng

Phương pháp chẩn đoán cận lâm sàng

- Chọc hút hạch

  • ·         Chọc hút dịch để chẩn đoán tế bào học
  • ·         Chọc hút hạch để xét nghiệm tìm vi khuẩn lao.

- Sinh thiết hạch

Để chẩn đoán mô bệnh học, để xét nghiệm tìm vi khuẩn lao

  • ·         Sinh thiết hạch để chẩn đoán mô bệnh học: Đây là kỹ thuật quan trọng, có giá trị giúp chẩn đoán xác định hạch cao hơn phương pháp chọc dò, thấy được tổn thương là nang lao điển hình, hiệu quả chẩn đoán của kỹ thuật này khoảng > 80%.
  • ·         Sinh thiết hạch để xét nghiệm tìm vi khuẩn lao: Bằng phương pháp soi trực tiếp, nuôi cấy trong môi trường, BACTEC, kỹ thuật PCR. Cũng giống như chọc dò hạch, sinh thiết hạch lấy bệnh phẩm tìm vi khuẩn lao bằng phương pháp trực tiếp, nuôi cấy, kỹ thuật PCR có ý nghĩa quyết định cho việc chẩn đoán lao hạch ngoại vi.

- Phản ứng da với Tuberculin: Lao hạch nói riêng, các lao ngoài phổi nói chung, phản ứng Tuberculin thường dương tính mạnh.

- Chụp X Quang lồng ngực chuẩn, CT lồng ngực

- Xét nghiệm đờm tìm AFB: Bằng phương pháp nhuộm soi trực tiếp và nuôi cấy tìm vi khuẩn lao. Các xét nghiệm này có thể dương tính nếu có phối hợp với lao phổi.

- Xét nghiệm công thức máu, máu lắng: Công thức máu thường không thay đổi trong lao hạch, số lượng hồng cầu bình thường hoặc giảm nhẹ, bạch cầu bình thường, tỷ lệ lympho cao. Tốc độ máu lắng tăng cao.

- Các xét nghiệm miễn dịch: Các phản ứng chủ yếu dùng cho các cơ sở nghiên cứu, không được sử dụng đại trà.

Một điều cần lưu ý nữa là bệnh có chữa khỏi được không phụ thuộc rất lớn vào sức đề kháng của người bệnh. Chính vì vậy, mỗi người nên chủ động giữ gìn sức khỏe để hỗ trợ cho việc điều trị có kết quả tốt nhất.

Tải ứng dụng ISOFHCARE để đặt khám trực tuyến với bác sĩ hoặc gọi đến hotline 1900638367 để được hướng dẫn sử dụng ứng dụng!

Cẩm nang ISOFHCARE cung cấp cho bạn các bí quyết khám bệnh tại Hà Nội và Hướng dẫn khám bệnh tuyến trung ương với những thông tin đắt giá và chính xác nhất.

Chúc bạn và gia đình luôn mạnh khỏe

Chuyên mục:
ISOFHCARE | Ngày đăng 27/11/2021 - Cập nhật 27/11/2021

ĐẶT KHÁM DỄ DÀNG VỚI ISOFHCARE

CHUYÊN MỤC CẨM NANG