Trang chủ/Bệnh hô hấp /hệ miễn dịch của con người được diễn ra như thế nào trong bệnh lao?/
icon diamond
iSofHcare là ứng dụng đặt khám online hàng đầu, với hệ thống bệnh viện, phòng khám và bác sĩ liên kết là những chuyên gia đầu ngành, cho phép người dùng đặt khám, từ xa và lưu trữ hồ sơ sức khỏe tiện ích và dễ dàng. Quét QR Code để cài app ngay!

Hệ miễn dịch của con người được diễn ra như thế nào trong bệnh lao?

Hệ miễn dịch là hệ thống tự bảo vệ để chống lại những tác nhân gây đe dọa đến sức khỏe con người. Bao gồm hai loại cơ bản kết hợp với nhau để tìm kiếm và tiêu diệt các sinh vật truyền nhiễm - “những kẻ xâm lược” có hại cho sức khỏe. Hệ miễn dịch tấn công những yếu tố gây bệnh cho cơ thể con người thông qua một loạt các bước được gọi là phản ứng miễn dịch. Vậy trong bệnh lao, hệ miễn dịch có những đặc điểm nào, hãy cùng theo dõi qua bài viết dưới đây nhé!

1. Miễn dịch trong bệnh lao là miễn dịch tế bào

Qua những thực nghiệm của mình Landsteiner - Chase và Lurie (1942) đã chứng minh các quần thể lympho T và đại thực bào có vai trò quan trọng trong đáp ứng miễn dịch của bệnh lao. Sau khi thôn thực vi khuẩn, đại thực bào phân hủy vi khuẩn và trình diện kháng nguyên cho các tế bào lympho (chủ yếu là TCD4). Đây là các phản ứng xảy ra ở mức độ phân tử rất phức tạp có sự tham gia của phân tử MHC (Major Histocompatibility Complex) lớp I và II nằm trong gen. Các tế bào TCD4 sau khi nhận được tín hiệu các kháng nguyên, chúng trở thành các tế bào hoạt hóa tiết ra Interleukin II khởi động một loạt các phản ứng miễn dịch tiếp theo, giúp cơ thể tiêu diệt vi khuẩn lao. Vì vai trò quan trọng của tế bào TCD4 trong đáp ứng miễn dịch của bệnh lao, HIV cũng tấn công phá hủy tế bào này, mà bệnh lao và HIV/AIDS thường đồng hành.

Miễn dịch trong bệnh lao là miễn dịch tế bào

2. Ứng dụng của miễn dịch trong lâm sàng bệnh lao 

- Huyết thanh chẩn đoán

Sự có mặt của vi khuẩn lao trong cơ thể, giống như các bệnh nhiễm khuẩn khác, cơ thể sản xuất kháng thể chống lại các kháng nguyên của vi khuẩn. Các kháng thể không có vai trò tiêu diệt vi khuẩn như các tế bào, nhưng lại được sử dụng để chẩn đoán bệnh lao, đặc biệt đối với lao thể lao ít tìm thấy vi khuẩn trong bệnh phẩm như các thể lao ngoài phổi, lao trẻ em... Những kỹ thuật miễn dịch như phản ứng gắn bổ thể, ngưng kết hồng cầu của Middlebrook - Kubos, kỹ thuật khuếch tán trên thạch đã sớm được áp dụng để chẩn đoán bệnh lao. Kỹ thuật miễn dịch phóng xạ (Radio Immuno Assay - RIA), đặc biệt là miễn dịch gắn men (Enzyme Linked Immuno Sorbent Assay - ELISA), được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước để chẩn đoán bệnh lao. Các kháng nguyên của vi khuẩn lao thường được dùng là protein 38Kda, protein 30Kda, protein 16Kda, lipsarabinomannan, kháng nguyên A60 (hỗn hợp lipid, protid, polysarcharid). Ở nước ta cuối thế kỷ XX, phản ứng ELISA đã được sử dụng để chẩn đoán bệnh lao màng não trẻ em với độ nhạy 79 – 80%, độ đặc hiệu 95 – 97%. Gần đây, các kỹ thuật sinh học phân tử (PCR – TB, Xpertgen...) được áp dụng để chẩn đoán bệnh lao với hiệu quả cao hơn đồng thời chẩn đoán được cả vi khuẩn kháng thuốc, các kỹ thuật chẩn đoán huyết thanh ít được sử dụng. 

Tải ứng dụng ISOFHCARE để đặt khám trực tuyến với bác sĩ hoặc gọi đến hotline 1900638367 để được hướng dẫn sử dụng ứng dụng!

- Miễn dịch trị liệu (miễn dịch điều ứng)

Việc điều trị bệnh lao đã trở nên dễ dàng nhờ phát minh ra hàng loạt thuốc chữa lao và áp dụng vào điều trị từ những năm 50 – 70 của thế kỷ XX. Nhưng đến thập kỷ 80 của thế kỷ XX hóa trị liệu vẫn không điều trị khỏi tất cả người bệnh bị lao, có nhiều bệnh nhân điều trị thất bại và tái phát, đặc biệt là số bệnh nhân lao kháng thuốc ngày càng tăng, do đó miễn dịch trị liệu được coi là biện pháp điều trị hỗ trợ quan trọng. Những bệnh nhân lao điều trị thất bại, tái phát hay cỏ vi khuẩn kháng thuốc ngày càng tăng, do đó miễn dịch trị liệu được coi là biện pháp điều trị hỗ trợ quan trọng. Những bệnh nhân lao điều trị thất bại, tái phát hay có vi khuẩn kháng thuốc, thường kèm theo các rối loạn miễn dịch. Điều chỉnh lại những rối loạn miễn dịch này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả khỏi bệnh. Trong các biện pháp điều trị miễn dịch, người ta dùng các vật phẩm khác nhau, thậm chí cả con vi khuẩn lao (không có khả năng gây bệnh) như BCG, M.vaccae hoặc các thành phần kháng nguyên của nó (Sáp D, Water Soluble Antigen – WSA...). Ngoài ra còn dùng các chế phẩm khác như các lympho T đã được hoạt hóa, Thymalin, Levamisol, Interferon gamma... Tại Bệnh viện Phổi Trung ương, Mavaceae đã được nghiên cứu trong điều trị hỗ trợ bệnh lao, những kết quả bước đầu đáng chú ý, nhưng cần phải nghiên cứu tiếp tục.

- Ứng dụng miễn dịch trong phòng bệnh

Sử dụng BCG vaccin để phòng bệnh.

Sử dụng BCG vaccin để phòng bệnh.

3. Dị ứng trong bệnh lao

“Dị ứng” là thuật ngữ do Clement Von Pirquet đưa ra (1907) để chỉ tình trạng phản ứng khác nhau giữa chuột đã nhiễm lao và chưa nhiễm lao. Sau này thuật ngữ “tăng mẫn cảm muộn” được dùng nhiều hơn. Gọi là phản ứng “tăng mẫn cảm muộn” còn bao hàm được cả thời gian xảy ra phản ứng: phản ứng bắt đầu sau 6 giờ, tăng dần đạt mức tối đa 48 đến 72 giờ. Gần đây người ta còn gọi hiện tượng dị ứng là “miễn dịch bệnh lý” để chỉ hiện tượng này không có lợi cho cơ thể khi nhiễm trùng lao..

- Các phương pháp phát hiện dị ứng 

Phản ứng da với Tuberculin

  • Bản chất của Tuberculin: Tuberculin là chất chiết suất từ môi trường nuôi cấy vi khuẩn lao. Tuberculin là một hỗn hợp protid, polysarcharid, lipid và các acid nucleotid. Từ năm 1934, Seibert F đã tinh chế được Tuberculin tinh khiết PPD (Puritied Protein Derivative) được sử dụng trong lâm sàng. Loại Tuberculin được Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) coi là chuẩn sử dụng trong điều tra dịch tễ bệnh lao là Tuberculin PPD RT23 của Đan Mạch sản xuất.
  • Kỹ thuật làm phản ứng Tuberculin: Có nhiều kỹ thuật làm phản ứng Tuberculin như rạch da do đâm nhiều mũi qua da, dán trên da... Nhưng kỹ thuật tiêm trong da do Mantoux đề xướng (1908) được sử dụng rộng rãi nhất (hiện nay gọi là phản ứng Mantoux). Người ta tiêm 1/10ml dung dịch Tuberculin (tương đương 5 hoặc 10 đơn vị Tuberculin tùy từng loại) vào trong da (1/3 mặt trước ngoài cẳng tay).
  • Cách đọc và nhận định kết quả: Đọc kết quả sau 72 giờ, đo đường kính của nốt sần (không tính kích thước của quầng đỏ xung quanh nốt sần): 

Dị ứng trong bệnh lao

Đường kính của phản ứng từ 10mm trở lên được coi là dương tính (đối với loại Tuberculin PPD của Hungary):

  • Từ 10 – 15mm: Dương tính nhẹ.
  • Từ 16 – 20m: Dương tính trung bình. 
  • Hơn 20mm: Dương tính mạnh.

Phản ứng nghi ngờ khi đường kính từ 5mm đến <10mm; phản ứng âm tính khi đường kính <5mm. Ở người có HIV/AIDS, kích thước phản ứng từ 5mm trở lên được coi là dương tính, Cần chú ý là phản ứng Mantoux dương tính chỉ có ý nghĩa là cơ thể đã bị nhiễm vi khuẩn lao. Tuy nhiên có trường hợp đã bị nhiễm lao nhưng phản ứng vẫn âm tính: cơ thể quá suy kiệt, đang bị bệnh virus (cúm, sởi), đang dùng corticoid và các thuốc ức chế miễn dịch…

- Phát hiện dị ứng bằng xác vi khuẩn (BCG test)

Đây là kỹ thuật được dùng ở nước ta vào những năm 1956 – 1958, hiện nay không dùng nữa.

- Xác định trong huyết tương

Để nhận biết cơ thể nhiễm vi khuẩn lao namời với cơ thể nhiễm vi khuẩn không điển hình (M.A) hoặc đã tiêm phòng BCG vaccin, mà phản ứng Mantoux không phân biệt được.

Tóm lại, vai trò của hệ thống miễn dịch là thực hiện các phản ứng nhanh và chuyên biệt nhằm bảo vệ cơ thể chống lại những mầm bệnh ngoại lai. Hãy có một chế độ dinh dưỡng, luyện tập lành mạnh để phòng ngừa tối đa nguy cơ mắc bệnh.

Cẩm nang ISOFHCARE cung cấp cho bạn các bí quyết khám bệnh tại Hà Nội và Hướng dẫn khám bệnh tuyến trung ương với những thông tin đắt giá và chính xác nhất.

Chúc bạn và gia đình luôn mạnh khỏe!

Chuyên mục:
ISOFHCARE | Ngày đăng 28/11/2021 - Cập nhật 28/11/2021

ĐẶT KHÁM DỄ DÀNG VỚI ISOFHCARE

CHUYÊN MỤC CẨM NANG